Top Book
Chùa Việt
Bài Viết

Sách Đọc (36)


Xem mục lục

31. Lửa địa ngục

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, các Sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức thường dạy; lửa thế gian không nóng bằng lửa địa ngục. Các ngài ấy còn nhấn mạnh thêm rằng: ném một cục đá nhỏ vào lửa thế gian, dù lửa ấy cháy từ sáng đến tối, đá kia cũng không tiêu nhưng một tảng đá lớn ném vào lửa địa ngục, chỉ trong chốc lát là tiêu mất. Ðó là một điều mà trẫm khó thể tin được. Các ngài ấy còn dạy rằng: người làm điều ác, khi đọa vào địa ngục, bị lửa địa ngục thiêu đốt cả ngàn vạn năm, người ấy vẫn không chết mất tiêu. Ðó là điều thứ hai mà trẫm thấy càng khó tin hơn nữa.

-- Tâu Ðại vương, hẵn Ðại vương có nghe nói dưới nước có các loài thủy tộc như sấu, trạnh, cua, thuồng luồng, và những con cái của các loài thủy tộc nầy khi có chửa vẫn ăn sạn sõi mà sống?

-- Thưa, có. Chúng nó dùng sạn sỏi làm thức ăn.

-- Thế thì một khi vào bụng chúng, sạn sỏi ấy có tiêu không?

-- Thưa, hẳn phải tiêu hết.

-- Trứng chửa trong bụng chúng có tiêu không?

-- Thưa, không.

-- Vì sao vậy?

-- Theo thiển ý, có lẽ tại ảnh hưởng của cái nghiệp.

-- Con người trong lửa địa ngục cũng giống như thế. Bị thiêu đốt cả ngàn vạn năm mà vẫn không tiêu, ấy là bởi ảnh hưởng của nghiệp. Hễ khi nào tội lỗi đã tạo chưa trả xong thì chưa thể chết mất tiêu.

-- Xin cho ví dụ khác.

-- Những ác thú như sư tử cái, cọp cái, beo cái, chó sói cái, trong lúc đương có chửa, vẫn ăn xương thịt của các loài thú khác. Xương thịt ấy sau khi vào bụng chúng, có tiêu đi không?

-- Thưa có.

-- Thế thì cái thai chúng mang trong bụng có tiêu đi không?

-- Thưa, không.

-- Tại sao vậy?

-- Có lẽ cũng tại ảnh hưởng của cái ngiệp.

-- Con người trong lửa địa ngục cũng giống như thế. Bị thiêu đốt cả ngàn vạn năm mà vẫn không tiêu, ấy là bởi nghiệp báo chưa trả xong tội lỗi chưa đền hết. Cho nên chưa thể chết mất tiêu được.

-- Xin cho ví dụ khác.

-- Bò cái, ngựa cái, lừa cái, nai cái, trong lúc đang có chửa, vẫn ăn cây cỏ mà sống. Cỏ cây ấy vào trong bụng chúng có tiêu đi không?

-- Thưa có.

-- Cái thai chúng đang mang trong bụng thế nào?

-- Không tiêu.

-- Sao vậy?

-- E cũng tại ảnh hưởng của cái nghiệp.

-- Con người trong lửa địa ngục, cũng giống như thế.

-- Xin cho ví dụ khác.

-- Trong hàng phụ nữ như quí phu nhân sang trọng và vợ của các trưởng giả giàu có, thường dùng cá thịt sơn hào hải vị làm thức ăn. Các thức ăn ấy vào trong bụng họ có tiêu đi không?

-- Thưa, có.

-- Khi họ mang thai, cái thai ấy có tiêu đi không?

-- Thưa, không.

-- Sao vậy?

-- Chắc cũng tại ảnh hưởng của cái nghiệp.

-- Con người trong lửa địa ngục cũng giống như thế. Bị lửa địa ngục thiêu đốt cả ngàn vạn năm nhưng vì tội lỗi chưa trả xong, nghiệp báo chưa dứt hết nên vẫn chưa chết mất tiêu được. Sanh ra trong sự thiêu đốt, họ cũng sẽ già trong sự thiêu đốt, cho đến một ngày nào đó, nghiệp báo dứt trừ, họ mới mất tiêu.

-- Hay thay! Hay thay!

32. Nước dựa trên không khí

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, các Sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức dạy rằng đất dựa vào nước, nước dựa vào không khí, không khí dựa vào hư không. Những điều nói đó, trẩm khó thể tin được!

Nhân có cái đãy lọc nước mang theo bên mình, Na Tiên dơ cao cái đãy ấy lên, tâu lại vua rằng:
-- Tâu Ðại vương, nước trong đãy này không dựa trên không khí là gì?

33. Niết Bàn

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, phải chăng Niết Bàn là tịch diệt, là ngưng nghĩ vĩnh viễn?

-- Thưa phải.

-- Xin giải thích cho trẫm hiểu.

-- Kẻ mê muội, từ trong tâm ra đến ngoài thân, mải mê chạy theo ham muốn của giác quan. Trôi giạt trong sự ham muốn ái ân, hụp lặn trong sự ham muốn ái ân, kẻ kia không có cách gì thoát ra khỏi khổ đau của sanh, già, bịnh, chết. Bậc trí giả nhờ có tu hành nên từ trong tâm họ đến ngoài thân, không say đắm một cái gì hết. Không ham muốn, cũng chẳng vui thích. Không trìu mến ái ân thì không tham dục. Không tham dục thì không có bào thai. Không có bào thai thì không tái sanh. Không tái sanh thì không già, không bịnh, không chết, không sanh già bịnh chêt thì ngoài không sầu lụy hiện ra, trong không bi thống nung nấu. Cho nên nói Niết Bàn là tịch diệt, trong đó khổ đau ngưng nghỉ vĩnh viễn và hoàn toàn.

-- Như vậy, phải chăng các nhà tu hành đều chứng đắc Niết Bàn hết?

-- Thưa, chưa chắc. Ai nhứt tâm hướng thiện đi trên con đường đúc hạnh, học hết những điều chánh chân, luyện tập những gì đáng luyện tập, gạt ra ngoài những gì đáng xả ly, nhớ nghĩ những gì đáng nhớ nghĩ, vứt bỏ những gì không đáng gắn ghi, người nào làm được như thế mới có thể chứng đắc Niết Bàn.

-- Người chưa chứng đắc Niết Bàn có biết rằng Niết Bàn là cảnh giới sung sướng không?

-- Thưa biết.

-- Chưa chứng đắc Niết Bàn, làm sao biết được là sướng?

-- Thế thì những người chưa từng bị chặt tay chân có biêt rằng bị chặt tay chân là khổ không?

-- Thưa biết.

-- Chưa bị chặt tay chân, làm sao biết được là khổ?

-- Nghe tiếng kêu la than khóc của những người bị chặt tay chân thì biết rằng bị chặt tay chân khổ lắm.

-- Cũng giống như thế, tuy chưa chứng đắc Niết Bàn, nhưng nghe các nhà chân tu đắc đạo nói lại và thấy phong thái nhàn lạc của họ thì biết rằng cảnh Niết Bàn sướng lắm.

34. Phật có ra đời

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, Ðại đức đã thấy Phật lần nào chưa?

-- Tâu Ðại vương, chưa.

-- Lệnh Tôn sư có thấy không?

-- Thưa, cũng không.

-- Nếu thế thì chắc gì đã có Phật ra đời? Vì chính mắt Ðại đức không thấy, mà lệnh Tôn sư cũng chẳng thấy!

-- Tâu Ðại vương, Ðại vương đã thấy con sông U Há (Uha) trên núi Hy Mã Lạp Sơn chưa?

-- Thưa chưa.

-- Lệnh Vương phụ va lệnh Thái phụ có thấy không?

-- Thưa, cũng không.

-- Nếu thế thì chắc gì đã có sông U Há đương chảy trên núi Hy Mã? Vì chính mắt Ðại vương không trông thấy, mà lệnh Vương phụ cũng như lệnh Thái phu đều chẳng hề trông thấy!

-- Thưa, quả thật có con sông U Há. Tuy đời Trẫm chưa trông thấy và gia tiên cũng chẳng hề trông thấy, nhưng nhiều người đã đến tận trên đó về nói và sông ấy chính là nguồn tiếp nước cho sông cái chảy về đồng bằng.

-- Tâu Ðại vương, cũng như thế đó, tuy bần tăng không thấy Phật, và Tôn Sư bần tăng cũng chưa hề thấy Phật, nhưng Phật vẫn thật có ra đời mới có giáo pháp của Ngài truyền thọ cho đến ngày nay.

35. Phật là tối thắng

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, Phật là bậc cao quý nhất trên đời, có đúng như thế không?

-- Tâu Ðại vương, đúng. Phật là tối thắng, không ai trên đời này sánh kịp.

-- Làm sao Ðại đức biết được? Ðại đức đã từng xác nhận tự mình chưa từng thấy kia mà!

-- Ví như chưa có người chưa hề thấy biển, nhưng đã thấy năm con sông lớn (1) là các sông Hằng Hà, Tín Tha, Thư Tha, Bác Xon, và Thi Phi Di ngày đêm đổ nước ra biển không ngừng mà mặt biển vẫn không vì thế mà cao thêm thì người đó có tin rằng biển sâu thẳm mênh mông không?

-- Thưa, tin.

-- Cũng như thế đó, vì có rất nhiều đại đệ tử đắc đạo, thảy đều nói rằng không ai hơn Phật nên bần tăng tin rằng Phật là tối thắng.

-- Có thể biết được Phật tối thắng như thế nào không?

-- Ðược.

-- Bằng cách nào?

-- Ðọc sách, Ðại vương có biết người ghi chép những lời Phật dạy thành sách là ai không?

-- Vị ấy tên là Chất (2).

-- Thế Ðại vương đã từng thấy mặt đại đức Chất chưa?

-- Chưa hề thấy, vì Ðại đức ấy đã tịch lâu rồi.

-- Chưa từng thấy đại đức Chất, làm sao biết rằng đại đức ấy viết sách?

-- Vì có sách và nét chữ của Ngài để lại.

-- Cũng như thế đó, ai thấy giáo pháp của Phật tức là thấy Phật. Vì chính Phật đã truyền giáo pháp của Ngài lại cho toàn thể tín đồ. Giáo pháp ấy thật là thậm thâm vi diệu. Bằng vào đó, bần tăng biết rằng Phật là tối thắng, là cao quý nhất trên đời này.

-- Hay thay! Hay thay!


(1) Bấy giờ, vua Di Lan Ðà và ngài Na Tiên đương ở tại thủ đô Sakala trong vùng Ngũ Hà (Pendjab) . Ðáng lý năm con sông lớn nói đây phải là các sông: Indus (Tàu dịch là Ấn Hà, Tín Hà, Tín Tha), Vitasta, Askini, Parusni và Sutudri. Vì đây là tên năm con sông lớn trong hệ thống Ngũ Hà. Còn hệ thống Hằng Hà (Gange) thì ở Ðông Ấn và số sông lớn nhiều hơn con số 5 rất xa. Ðó là các sông: Gange, Yamunà, Carmarvati, Sona, Sarayù, Aciravati, Hiranyavati v.v. Phải chăng có sự lầm lẫn trong các bản Hán dịch?

(2) Tissa. Nói đủ là Maggaliputta Tissa.
 
 

36. Thân cũ không tái sanh

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, con người sau khi chết có trở lại mang thân cũ mà tái sanh không?

-- Tâu Ðại vương, sau khi chết rồi, con người bỏ thân cũ mà mang thân mới.

-- Xin cho ví dụ.

-- Vi như người ta châm đuốc. Hết đuốc này, lửa lan qua cháy sáng đuốc kia. Con người ta cũng thế. Cái thân cũ không đem đi theo. Phải thọ lãnh một thân mới.

Na tiên trở ngược lại hỏi vua:
-- Ðại vương hồi nhỏ có theo thầy học chữ không?

-- Thưa có. Và ngày nay, trẫm vẫn còn nhớ.

-- Những kinh sách của Ðại vương học, sau khi phụ đạo dạy xong và Ðại vương đã thông hiểu, phụ đạo còn nhớ gì không, hay Ðại vương đã tóm thâu hết sạch rồi?

-- Thưa không, phụ đạo vẫn nhớ và thông hiểu như trước khi chưa dạy trẫm.

-- Con người ta cũng thế, lìa bỏ thân cũ thì liền nhận thân mới.

37. Thân mất , việc làm còn

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, có cái thần hồn để nhớ không?

-- Tâu Ðại vương, không.

-- Thế thì trong con người cái gì ghi lại các việc làm đã qua?

Na Tiên trở hỏi ngược lại nhà vua rằng:
-- Ví như có người hái trộm xoài của kẻ khác thì có chịu tội không?

-- Dĩ nhiên là có tội.

-- Khi mới trồng, cây xoài mầm đâu đã có trái? Ðây chỉ là hái trái, đâu có trộm cây xoài mầm mà cũng chịu tội?

-- Nhưng nếu không trồng cây xoài mầm thì lấy đâu ra xoài trái để người kia hái trộm?

-- Con người cũng giống như thế. Với cái thân hiện tại, người ta làm các việc lành dữ. Các việc lành dữ này không có tướng trạng gì hết, nhưng trong khoảng "minh minh chi trung" ấy, đương tựu thành một thân mới, để đời sau tái sanh mà thành thọ quả báo.

-- Theo trẫm nghĩ, không phải con người đời sau chịu quả báo, mà nó dựa vào thân mới ấy để tiếp tục làm điều thiện điều ác khác.

-- Thế thì những việc lành dữ của nó trước kia đi đâu?

-- Như vậy, xoài mầm của Ðại vương đâu có kết trái? Làm sao kết tội người hái trộm xoài trái được?

-- Vậy theo Ðại đức, những việc lành dữ trước kia đi đâu?

-- Chúng không đi đâu hết. Chúng theo sát gót kẻ đã tạo tác ra chúng, như bóng theo hình. Người chết chỉ mất cái thân, không bao giờ đánh rời những việc đã làm. Ví như đêm tối đốt đèn viết sách, khi sách viết xong và đèn đã tắt, chữ vẫn tiếp tục tồn tại trên giấy. Vì vậy cho nên, những việc thiện ác đã làm trong đời này, đời sau đương nhiên phải thành tựu kết quả, và kết quả ấy cũng chính tác giả phải tự thọ lãnh lấy.

38. Không thể biết quả báo về sau.

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, có thể chỉ rõ kết quả của việc lành việc dữ sẽ tựu thành ra sao trong đời sau được không?

-- Tâu Ðại vương, không.

-- Sao vậy? Xin cho ví dụ.

-- Ví như trẻn một thân cây chưa ra trái, Ðại vương có cách gì biết được trái sẽ kết tụ ở cành nào và tại chỗ nào nhất định trên cây không?

-- Thưa không.

-- Cũng như thế đó, trong vòng sanh tử vô thủy vô chung vô cùng vô tận, người chưa đắc đạo không thể nào biết những việc thiện ác sẽ thành tựu ra sao và ở đâu một cách chính xác.

-- Nhưng người còn tái sanh có biết được rằng mình sẽ phải tái sanh không?

-- Biết.

-- Bằng cách nào?

-- Ví như người làm ruộng gieo trồng đúng thời tiết thì có biết được rằng mình sẽ có lúa mà gặt không?

-- Thưa biết.

-- Cũng giống như thế, con người còn phải sanh trở lại cũng biết được rằng mình sẽ tái sanh.

39. Niết Bàn ở đâu?

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, thật có Niết Bàn không?

-- Tâu Ðại vương, có.

-- Ðại đức có thể cho biết hiện Ðức Phật đang an trú ở chỗ nào trong cõi Niết Bàn ấy không?

-- Phật đã vào Niết Bàn, mà Niết Bàn là tịch diệt thì làm sao chỉ được!

-- Xin cho ví dụ.

-- Ví như có người đốt lên một đám lửa lớn. Sau khi lữa tắt, có thể chỉ ngọn lửa ấy hiện đương ở chỗ nào không?

-- Thưa không, vì ngọn lửa đã dứt.

-- Cũng như thế đó, làm sao chỉ được Ðức Phật hiện đang an trú ở chỗ nầy hay ở chỗ kia trong Niết Bàn. Duy chỉ có pháp thân của Ngài, tức giáo pháp do Ngài truyền lại là có thể chỉ được mà thôi.

40. Vì sao Sa môn săn sóc cái thân?

Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, chư Sa môn các ngài có nưng niu cái thân của mình không?

-- Tâu Ðại vương, không.

-- Không nưng niu thân mình, thế thì vì sao khi nằm nghỉ, các ngài cũng chọn chỗ êm ấm, khi ăn uống các ngài cũng thích ăn những thức ăn ngon lành? Vì sao vậy?

-- Ðại vương tùng cầm quân ra trận nhiều lần rồi đấy chứ?

-- Thưa vâng.

-- Và cũng từng nhiều phen bị thương rồi đấy chứ?

-- Thưa, vâng.

-- Mỗi khi bị thương như thế, Ðại vương có chữa vết thương không? và chữa ra sao?

-- Lấy thuốc cao mà đắp lên, và lấy bông gòn và giẻ sạch mà rịt vết thương lại.

-- Phải chăng vì Ðại vương yêu mến và nưng niu vết thương nên săn sóc nó cẫn thận như vậy?

-- Thưa, không phải vì yêu mến vết thương.

-- Nếu không phải vì yêu mến vết thương, thế thì vì cớ gì mà Ðại vương lại săn sóc kỹ lưỡng như vậy?

-- Ấy là vì trẫm muốn cho nó mau lành mà thôi.

-- Cũng như thế đó, sa môn không yêu mến cũng không nưng niu thân mình, nhưng phải săn sóc nuôi dưỡng nó. Tuy vẫn ăn uống nhưng không lấy việc ăn uống làm vui. Không cầu ăn sang. Không mong ăn ngon. Nhưng cũng không thể để cho nó đói. Mục đích ăn uống cốt là chỉ cốt để duy trì cái thân và dùng nó mà hành đạo. Ðức Phật có dạy rằng: "Con người ta có chín lỗ (cửu khổng) ví như chín cái ung nhọt ngày đêm thường tiết rỉ ra những chất xú uế tanh hôi". Vì vậy mà phải săn sóc nó, giống như Ðại vương săn sóc vết thương vậy.

Xem mục lục