Top Book
Chùa Việt
Bài Viết

Sách Đọc (36)


Xem mục lục

Tánh giác không phải là sở minh, thế mà nhân minh giác lập ra sở minh. Cái sở đã vọng lập, liền sanh cái năng hư vọng của ông.
Trong cái vốn không có đồng, không có khác, bỗng dưng khởi ra thành có cái khác. Khác với cái khác đã thành kia, nhân cái khác ấy mà lập ra cái đồng. Cái đồng cái khác đã phát sanh ra, nhân đó mới lại lập ra cái không đồng không khác.
Như thế mà rối loạn, đối đãi với nhau mà sanh mỏi nhọc.Mỏi nhọc lâu dài thì sanh ra trần tướng mà làm vẫn đục nhau, do đó mà dẫn khởi ra những trần lao phiền não.Khởi lên thì có ra thế giới, yên lặng thì thành hư không. Hư không là đồng, thế giới là khác. Dầu là không đồng không khác cũng vẫn là pháp hữu vi.

………………………………….

Sở có thì năng có, năng có thì sở có. Cả hai đều hư vọng lập ra trong Như Lai tạng vô sanh. Trong Như Lai tạng chỉ thuần một vị giác ngộ, khi đã hư vọng lập ra năng sở, cái này giác cái kia không giác, cái này minh cái kia không minh, thì trong cái vốn không có đồng không có khác bỗng hư vọng khởi lên ý niệm đồng và khác và rồi trên cái đồng và khác ấy hư vọng lập ra cái không đồng không khác.

Sự rối loạn, mỏi nhọc của tâm đã tạo ra thế giới. Sự đối đãi với nhau trong tâm đã tạo thành sự xung đột giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, thật ra cũng chỉ là tự phân cách mình với mình, xung đột mình với mình mà thôi. Thế giới phân mảnh này là sanh tử trói buộc giam nhốt chúng ta. Cho nên để đưa thế giới và con người là mặt trăng thứ hai trở lại mặt trăng thật là Như Lai tạng diệu chân như tánh, chỉ có cách duy nhất là tịnh hóa tâm phân biệt mỏi nhọc của mình, tịnh hóa tất cả phiền não chướng (trần lao phiền não) và tất cả sở tri chướng (cái thấy có năng sở, đồng khác).

Để thực sự chữa trị các tướng do phân biệt sanh ra này, kinh dạy phải đưa tất cả tướng về nguồn tánh, đưa tất cả thức tưởng về căn bản trí không phân biệt hay tự nhiên trí bổn nguyên.

……………………………………..

Cái giác minh và hư không mờ tối đối đãi nhau thành ra có lay động, cho nên có phong luân nắm giữ thế giới. Nhân hư không mà sanh ra lay động, kiên cố cái sáng mà lập thành sự ngăn ngại Các thứ kim quý do minh giác lập ra tính cứng, cho nên có kim luân mang giữ cõi nước. Kiên cố cái giác thì thành kim bảo, lay động cái minh thì có gió. Gió và kim cọ xát nhau nên có lửa sáng thành tính biến hóa. Ánh sáng của kim bảo nhuần thấm, lửa sáng xông lên, cho nên có thủy luân bao khắp mười phương cõi. Lửa bốc lên, nước sa xuống giao nhau phát nên tính cứng, chỗ ướt là biển lớn, chỗ khô là lục địa và đảo. Do nghĩa ấy trong biển lớn hơi nóng thường bốc lên, trong lục địa và đảo, sông ngòi thường chảy xuống. Thế nước kém lửa thì kết thành núi cao, bởi thế đá núi đập vào thì xẹt lửa, nung thì chảy ra nước. Thế đất kém thế nước, nảy lên làm cỏ cây, cho nên rừng rú đốt thì thành đất, vắt ra thành nước.

Các vọng tưởng giao nhau mà phát sinh, lần lượt làm chủng tử cho nhau. Do nhân duyên ấy thế giới tương tục.

………………………………………….

Một khi tánh giác đã bị phân biệt thành một cái sở là giác minh thì bèn có cái sở khác là hư không không có giác, không có minh. Sự đối đãi do tánh giác đã bị phân hai, đã thành một cái sở, một đối tượng, đã bị giới hạn, là sự đối đãi đầu tiên sanh ra mọi đối đãi khác. Đối đãi cho đến lúc các cái sở kia trở thành “thế giới của các pháp hữu vi” .

Khi chánh báo là tâm đã thành năng minh và sở minh, thì y báo là cảnh của thế giới vũ trụ hiện thành. Chánh báo càng thô nặng thì y báo là thế giới vật chất càng thô nặng. Nhưng điều chính là, vật chất là do các vọng tưởng đông đặc lại mà thành: Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức. Thế giới hữu vi tương tục vì các vọng tưởng tương tục; thế giới thô nặng vì tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ … thô nặng .

Cho nên muốn giải thoát khỏi cái vọng thấy thế giới, phải thoát khỏi các vọng tưởng phân biệt. Bởi vì tất cả mọi con đường, mọi tông phái Phật giáo đều đi chung theo một hướng, một đại lộ, “Tự tịnh kỳ ý”, dầu tịnh theo cách nào, nhanh hay chậm, chiến lược hay chiến thuật, tổng thể hay phần tử.

Ngay giờ đây mà không động niệm phân biệt, thì giác minh trở lại tánh giác, thế giới hữu vi trở lại thật tướng của nó. Trụ trong thật tướng ấy là tu, là đi trên con đường giải thoát và giác ngộ.

………………………………..

Lại nữa, Phú Lâu Na, cái minh hư vọng ấy chẳng phải là cái gì khác, lỗi là từ cái giác minh. Cái sở minh đã hư vọng lập ra, thì phạm vi của cái năng minh không vượt qua được. Do nhân duyên này mà nghe không ra ngoài tiếng, thấy chẳng vượt khỏi sắc. Sáu thứ vọng sắc, hương, vị, xúc….thành tựu, do đó mà phân ra có thấy, nghe, hay, biết.

Đồng nghiệp ràng buộc nhau mà có hợp, có lìa, có thành, có hóa. Cái thấy mà làm năng minh thì sắc phát ra, rồi cái năng minh cho cái thấy thì thành có tư tưởng. Thấy khác thì thành ra ghét, cùng tư tưởng thì thành thương. Chảy tràn cái thương yêu làm thành hạt giống, thu nạp tưởng niệm làm thành thai, giao cấu phát sanh, hấp dẫn cái cùng một nghiệp, nên có nhân duyên sanh ra yết la lam, át bồ đàm…. Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh tùy theo chỗ mà ứng hiện. Noãn sinh chỉ do tưởng mà có, thai sinh do tình mà có, thấp sinh do hợp mà cảm, hóa sinh do phân lìa mà ứng hiện. Tình, tưởng, hợp, lìa thay đổi lẫn nhau, do đó mà chịu nghiệp, theo đó mà chìm nỗi. Do nhân duyên ấy chúng sanh tương tục.

……………………………….

Quá trình vô minh sản sanh ra hư vọng này là vấn đề cá nhân. Sanh tử là sanh tử với mình, diệt hết sanh tử là diệt với mình, còn tánh giác diệu minh, pháp giới vẫn thanh tịnh vô sanh như vậy từ xưa nay và vĩnh viễn về sau.

Tánh giác khi đã có vô minh khởi động phân biệt thì thành cái giác minh.

Khi cái minh đã thành sở, có chỗ nơi và không toàn khắp như tánh giác thì đó là cái sở minh hư vọng. Cùng một lúc sở minh lập thì năng minh cũng thành. Sở minh càng phân mảnh, càng thô nặng thì thành sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, và năng minh thành các giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sở minh và năng minh giới hạn nhau, do đó mà nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc.

Sở minh là trần, năng minh là căn, ở giữa thức sanh ra. Thức bám chấp vào cái ta và cái của ta tạo thành nghiệp thức. Nghiệp thức ấy theo nghiệp, tức là thói quen, mà sanh ra trong bốn loài noãn, thai, thấp, hóa. Cứ tương tục như vậy mãi trong luân hồi sanh tử.

Nhưng ở đây chúng ta thấy một con đường thoát: trong cái sở minh (trần) và cái năng minh (căn), có minh, tức là ánh sáng. Nếu biết tìm thấy ánh sáng minh ấy nơi căn trần thức, bằng cách đi ngược lại chúng ta sẽ trở về lại cái minh bổn nguyên của tánh giác minh diệu chấm dứt sanh tử luân hồi hư vọng.

Sở minh năng minh giới hạn nhau khiến tánh giác thành sanh tử. Phá được năng sở giới hạn này là giải thoát, khi ấy chỉ còn một cái minh, một ánh sáng bổn nguyên: tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu.

…………………………………

Phú Lâu Na, các tưởng yêu thương cùng kết hợp với nhau, yêu thương chẳng rời, do đó trong thế gian cha mẹ, con cháu, sanh nhau không dứt. Những việc như thế do tham dục làm gốc. Tham và yêu mến cùng nuôi nhau, tham muốn chẳng ngừng nên trong thế gian các loài noãn sanh, hóa sanh, thấp sanh, thai sanh tùy sức mạnh yếu lần lượt ăn nuốt lẫn nhau. Những việc như thế do tham sát làm gốc. Người ăn dê, dê chết làm người, người chết làm dê. Như vậy cho đến mười loài chúng sanh chết sống, sống chết, ăn nuốt lẫn nhau. Nghiệp ác càng sanh cho đến tột đời vị lai. Những việc như thế do tham trộm làm gốc.

Người này mắc nợ mạng người kia, người kia trả nợ cũ cho người này, do nhân duyên ấy mà trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong sanh tử. Người này yêu tâm người kia, người kia thích cái sắc người này. Do nhân duyên ấy trải qua trăm nghìn kiếp thường ở trong trói buộc.

Chỉ ba thứ giết, trộm, dâm làm gốc rễ, mà do nhân duyên ấy nghiệp quả tương tục.

Phú Lâu Na, ba thứ điên đảo tương tục như thế, đều là tánh rõ biết sáng tỏ của giác minh. Nhân biết mà phát ra có hình tướng. Từ vọng thấy sanh ra có núi sông, đất đai, các tướng hữu vi, thứ lớp đổi dời, đều nhân cái hư vọng ấy mà hết rồi lại bắt đầu.

……………………………….

Tham dục thì sanh nhau không dứt. Nợ mạng, nợ những hành động gây tổn hại thì phải tái sanh để trả nợ. Yêu tâm, thích sắc thì cứ trói buộc nhau bao nhiêu kiếp. Kiếp này hết qua kiếp khác, tương tục không dứt, đó là luân hồi sanh tử.

Giác minh dù thấy và làm trong mê vọng nhưng vẫn có phần nào tánh rõ biết sáng tỏ vì giác minh là tánh giác đã bị ô nhiễm bởi vô minh. Cho nên trong đối đãi rối loạn của năng và sở hư vọng mà nhận ra hư vọng luôn luôn nằm trên tánh rõ biết sáng tỏ thì đây là con đường chấm dứt hư vọng, hiển lộ tánh giác.

Xem mục lục